Thursday, 7. August 2008, 05:44:50
For our sould
Chúng ta thường vắt kiệt sức mình vào việc theo đuổi những phiền toái không mang lại giá trị gì cho mình, bất kể chúng có thể gây ra vấn đề gì. Những phiền toái vô ích này chính là những chiếc bẫy tư duy. Chúng hoàn toàn gây mệt mỏi và lãng phí thời gian...
Bản chất của bẫy tư duy
Bẫy tư duy là trạng thái tư duy theo thói quen. Nó khiến chúng ta mất đi sự thanh thản trong cuộc sống, lấy đi lượng thời gian đáng kể, làm ta kiệt sức mà không mang lại bất kỳ giá trị nào.
Có một sự thật là ta thường vắt kiệt sức mình vào việc theo đuổi những phiền toái không mang lại giá trị gì cho mình, bất kể chúng có thể gây ra vấn đề gì. Những phiền toái vô ích này chính là những chiếc bẫy tư duy. Bẫy tư duy không cho phép ta tận hưởng việc xem ti vi như cách chúng ngăn ta làm một việc quan trọng. Chúng hoàn toàn gây lãng phí thời gian.
Bẫy tư duy được nhận dạng dựa vào hình thức ý nghĩ của chúng ta chứ không phải nội dung của chúng.Bất kỳ khía cạnh nào của cuộc sống - công việc nhà, giải trí cuối tuần, nghề nghiệp, những mối quan hệ - đều có thể được cho là hữu ích hoặc không hữu ích. Ta sẽ rơi vào cùng một cái bẫy như nhau khi suy nghĩ về công việc đơn giản như rửa bát đến những vấn đề phức tạp hơn như dự định kết hôn hoặc ly dị. Điểm khác biệt không nằm ở chủ đề tư duy mà là ở phương pháp tư duy về chủ đề đó. Khi tự thoát ra khỏi một chiếc bẫy, ta phát hiện ra rằng những vấn đề trong mỗi khía cạnh cuộc sống đều không đáng lo ngại.
Chúng ta xây dựng những kiểu ý nghĩ vô ích theo từng biểu thời gian có thể nhận thức được. Một chiếc bẫy tư duy có thể trói buộc chúng ta chỉ trong một khoảnh nào đó khắc hoặc cũng có thể là suốt cuộc đời. Tác hại của cả hai loại bẫy này là như nhau. Do tính chất ngắn ngủi nên sự lãng phí thời gian và sinh lực mà những chiếc bẫy tạm thời gây ra rất khó nhận biết và điều chỉnh. Chúng đến và đi trước khi ta nhận thức được những hành vi của mình. Kết quả là chúng càng xuất hiện nhiều hơn. Một công dân thành thị của thế kỷ 21 có thể hoàn toàn thoát khỏi cái bẫy tư duy kéo dài hơn vài phút trong một khoảng thời gian nhất định hay không vẫn còn là một điều chưa chắc chắn. Tác hại tích lũy trong suốt một ngày từ những cái bẫy nhỏ này sẽ gây ra sự suy kiệt khó lường.
Quan niệm bẫy tư duy cơ bản đã được đúc kết lại từ vài nghìn năm trước: Phàm sinh có thì tiết, mọi việc dưới trời có kỳ đinh Khi đi lệch hướng lời khuyên uyên thâm này - khỏi đầu vào một thời điểm sai lệch, tiếp tục với những bước đi sai lệch, từ bỏ quá sớm hoặc quá muộn - chúng ta sẽ không đạt được những thứ đáng ra phải có.
Cũng không có một nỗ lực nào quy định nội dung những hoạt động của chúng ta. Mỗi sự việc đều có thời điểm nhất định. Cả việc thưởng thức những món ngon và đạt được thành công trong cuộc sống đều có thể là những hoạt động chính đáng. Tuy nhiên, nếu ta cố gắng phát triển sự nghiệp của mình khi đang ăn tối, quá trình tiêu hóa thức ăn sẽ bị ảnh hưởng - cũng như ta sẽ không thể làm việc tốt trong khi cơ thể đang bài tiết muối và nạp năng lượng với món súp . ở đây, không có giá trị nào được chú trọng đúng mức. Chúng ta lẽ ra đã có thể tận dụng tốt hơn nữa thời gian và các nguồn lực của mình.
Khi thực hiện công việc tốt nhất vào thời điểm thích hợp nhất bằng phương pháp tối ưu nhất, chúng ta thường mắc những sai lầm lặp đi lặp lại và tương tự nhau. Đây chính là những cái bẫy tư duy.
Nếu bẫy tư duy có hại thì tại sao ta lại rơi vào những chiếc bẫy đó? Sao ta không thoát khỏi chúng? Có ba lý do. Thứ nhất, ta thường không có ý thức về những gì mình đang nghĩ đến. Thứ hai, ngay cả khi ý thức được, chúng ta cũng không nhận ra được bản chất có hại của những suy nghĩ đó. Thứ ba, ngay cả khi nhận thức được tác hại, chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi nó, bởi điều đó đã trở thành thói quen.
Nếu ý nghĩ vẫn tiếp tục khi ta đã mắc bẫy trong trạng thái không ý thức được, chúng ta cũng không thể thay đổi được tình thế. Ta không thể ngừng làm một việc khi không ý thức được ngay từ đầu là mình đang làm việc gì. Cũng như nếu không biết rằng mình đã mặc quần áo, sẽ không có chuyện ta cởi chúng ra ngay cả khi rất nóng bức. Tương tự, khi không biết rằng mình đang suy nghĩ những điều vô ích, ta không thể dùng suy nghĩ về chúng.
Ý niệm không ý thức được những suy nghĩ cửa mình có thể khiến ta suy nghĩ rất ngược đời - ta đánh đồng giữa ý thức với tư duy. Thế nhưng, đây là hai quá trình không hề giống nhau chút nào. Chúng ta có thể nhận thức rõ vị của một loại trái cây lạ hay cảm giác cực khoái mà không suy nghĩ điều gì trong đầu. Ngược lại, ta cũng có thể đang chìm ngập trong một mớ ý nghĩ mà không hề để tâm đến một ý nghĩ cụ thể nào. Thử nghiệm tinh thần dưới đây sẽ cho ta thấy tầm quan trọng của vấn đề này.
Khi tâm trí ta không bị xâm chiếm bởi một mối bận tâm hay niềm vui thú cụ thể nào, ý nghĩ sẽ lang thang một cách hời hợt từ chủ đề này sang chủ đề khác. Ta chỉ có thể kiểm soát cuộc thử nghiệm này khi đặt mình vào giữa trạng thái thơ thẩn đó. Đối với những người mắc chứng khó ngủ, thời gian họ nằm thao thức trên thường sẽ rất lâu. Càng sớm nắm bắt trạng thái thơ thẩn của mình, ta càng có thể bắt đầu tái cấu trúc chuỗi ý niệm cũ đã dẫn dắt chúng ta.
Nếu đang nghĩ về vẻ đẹp của Paris, có thể ta sẽ hồi tưởng lại ý nghĩ đã có trước đó về một người bạn mới từ thành phố này trở về . ý nghĩ về sự trở về của người bạn đó có thể bắt nguồn từ ký ức rằng anh này đang nợ tiền ta, mà ký ức này lại có nguồn gốc từ những khó khăn tài chính của ta - những khó khăn phát sinh khi ta muốn mua một chiếc xe mới.
Trong thử nghiệm này, không cần thiết phải quyết định trước thời gian tái dựng ý nghĩ trong vài phút tiếp theo. Chúng ta phải đợi đến khi nắm bắt được cái khoảnh khắc mà bản thân đang lang thang với những ý nghĩ. Khi đó, ta luôn bất ngờ về những ngóc ngách của luồng suy nghĩ. Nếu không có một sự tái dựng chủ động, ta sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng ý nghĩ về Paris lại có nguồn gốc từ ước muốn có một chiếc xe mới ? Sự bất ngờ này đã chứng minh cho một quan điểm. Chúng ta sẽ không bất ngờ trừ khi không biết mình đã nghỉm. Suy nghĩ của chúng ta là vô thức . Rõ ràng, quá trình suy nghĩ không phụ thuộc nhiều vào sự tập trung liên tục của ta đối với nó mà phụ thuộc nhiều hơn vào sự theo dõi về vị trí của tay và chân chúng ta.
Bẫy tư duy thường duy trì trạng thái không ý thức theo cách này. Chúng ta tự rơi vào chúng mà không hề quyết định một cách có ý thức. Yêu cầu trước hết để thoát khỏi chúng là học tập nghệ thuật nhận biết. Cuốn sách này cung cấp những điều kiện cần thiết để đáp ứng yêu cầu đó. Nó là công cụ dẫn đường của một nhà tự nhiên học dẫn ta đến một trật tự xác định của quần thể tinh thần, phác họa những đặc trưng nổi bật của nhiều bộ phận khác nhau, đưa ra những ví dụ minh họa phong phú. Nó là cuốn cẩm nang để nhận dạng những chiếc bẫy tư duy.
Bước đầu tiên là khám phá cách nhận biết và xác định những chiếc bẫy. Thế nhưng hai việc này vẫn chưa thể loại bỏ chúng. Ta còn cần phải nhận thấy tính vô ích và có hại của chúng. Thực tế, bẫy tinh thần thường bị nhầm lẫn với những hoạt động hoàn toàn cần thiết mà nếu không có chúng, cuộc sống sẽ trở nên thật hỗn độn và nguy hiểm. Một số bẫy thậm chí còn được tôn vinh bằng những mỹ từ rất hay ho. Ta sẽ không loại bỏ chúng cho đến khi hoàn toàn tin chắc là chúng không mang lại giá trị gì.
Mọi cuốn sách hướng dẫn dành cho các nhà tự nhiên học đều chứa loại thông tin thiết thực này. Khám phá cách nhận biết nấm amanit để làm gì nếu chúng ta không biết rằng nó là nấm độc? Cuốn cẩm nang này cũng vậy, bên cạnh những phương tiện đa dạng nhằm nhận biết bẫy tư duy, các phân tích về tác hại của chúng cũng sẽ được đề cập đến.
Sau khi biết cách nhận diện những chiếc bẫy và tin chắc rằng việc thoát khỏi nó là có lợi , ta bỏ được một thói quen xấu. Khi đó, ta giống như một người nghiện thuốc lá chấp nhận những phát hiện được nêu ra trong bản phân tích của bác sĩ. Bất cứ người nghiện thuốc lá nào cũng biết rằng đây là lúc bắt đầu cuộc chiến. Trong cuộc chiến chống lại những chiếc bẫy tinh thần, cũng như trong cuộc đấu tranh với thuốc lá, sự quyết tâm sẽ được thiết lập, bị phá vỡ và rồi lại được thiết lập. Có người thành công trong việc chiến thắng thói quen, có người sẽ thất bại. Có người ít nhất cũng được tạo động cơ để giảm hút thuốc. Chương cuối cùng của quyển sách này sẽ mang đến những lời khuyên chiến lược về việc làm thế nào để kiểm soát cuộc chiến chống lại bẫy tinh thần.
Các nhà khoa học tự nhiên phải vào rừng để tìm gặp đối tượng nghiên cứu của họ. Những người tìm kiếm bẫy tinh thần sẽ tìm thấy cái họ cần tìm giữa cuộc sống thường nhật. Bẫy tinh thần tồn tại trong hầu hết các sự kiện thông thường - trong hoạt động mua sắm, cân bằng sổ séc, duy trì các cuộc hẹn, đánh răng, trò chuyện với một ngươi bạn những sự kiện mà chúng ta có thể dùng để nghiên cứu về những chiếc bẫy tinh thần nhiều nhất. Khi có khả năng chiến thắng khá cao, chúng ta trở nên quá chú tâm vào kế quả đạt được và lơ là việc tiếp tục kiểm soát bản thân. Nhưng khi hoạt động đó diễn ra gần như thường xuyên, ta cảm thấy khó khăn khi phải kiểm tra lại những gì mình đã làm cũng như tìm ra động lực để thử một phương pháp mới.
Khi khám phá bản thân theo cách này, ta thu được một lợi ích bất ngờ từ sự gia tăng nhận thức về bản thân. Cuộc sống bình thường lập túc trở nên phi thường và hấp dẫn. Một cuộc điện thoại giữa giờ làm việc không còn là nỗi bực dọc mà sẽ là cơ hội để ta quan sát những tác động của sự gián đoạn. Đi xem phim muộn cho ta cơ hội để thẩm định bản chất của những cuộc hẹn không quan trọng. Làm việc dưới áp lực là cơ hội vô tận để tự khám phá. Việc rửa bát là điều kiện quan sát những sức mạnh tâm lý đa dạng - những sức mạnh dùng để đấu tranh với những vấn đề đáng ngại trong cuộc sống. Bởi không xem các vấn đề này là những rắc rối phiền não nên chúng ta sẽ không thể biết được gì về bản thân. Vì thế ta bắt đầu đón nhận vấn đề như một kẻ đồng minh, đồng thời bị cuốn hút bới phản ứng của bản thân trước chúng. Và cuộc sống thường ngày bị biến đổi thành cuộc phiêu lưu vô tận. Cuộc phiêu lưu đó là gì nếu không phải là một thái độ trước vấn đề?
Đã đến lúc bắt đầu khám phá vẻ đẹp nội tại.
Chúng ta không cần quá háo hức thay đổi mọi thứ xung quanh. Sự can thiệp mạnh mẽ có thể trì hoãn đến khi ta hiểu được sự cân bằng sinh thái của môi trường còn rất lạ lẫm này. Trong khi chờ đợi, hãy tận hương mỹ cảnh đó. Ngay cả nấm amanit cũng có vẻ đẹp của nó cơ mà.
Nguồn trích "http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Nhung_cam_bay_tu_duy/#Ban_chat_cua_bay_tu_duy
Wednesday, 6. August 2008, 07:27:25
Vocational Training
Cập nhật: 11/6/2008 09:02
Chủ động liên kết đào tạo sẽ giúp doanh nghiệp tháo gỡ bài toán thiếu hụt nhân lực. Đến bao giờ đào tạo và sử dụng lao động mới gắn kết được với nhau? Vì sao trường nghề và doanh nghiệp (DN) thiếu hợp tác với nhau? Trách nhiệm của DN trong việc đào tạo nghề như thế nào?... Đó là những băn khoăn của các đại biểu đặt ra ở hội nghị “Kết nối thông tin đào tạo và việc làm” do Trung tâm Giới thiệu việc làm (GTVL) TPHCM tổ chức cuối tuần qua.
Mạnh ai nấy đào tạo
Một lần nữa, những tồn tại, yếu kém trong đào tạo và sử dụng lao động được đưa ra mổ xẻ. Nổi bật xuyên suốt hội nghị là nhiều đại biểu đại diện các cơ sở dạy nghề thừa nhận đang dạy nghề theo phong trào là chính, chứ không nắm bắt thông tin thị trường lao động, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu lao động giữa các ngành nghề để tổ chức đào tạo cho phù hợp. Sự thiếu thông tin và thiếu hợp tác với DN dẫn đến đào tạo tràn lan, mạnh ai nấy làm, ít quan tâm đến sản phẩm đào tạo ra sử dụng thế nào.
Các cơ sở dạy nghề đều có lý do riêng khi bàn sâu về vấn đề này. Ông Dương Minh Kiên, Hiệu trưởng Trường Trung cấp nghề Quang Trung, cho rằng trường nghề là nơi tạo ra “sản phẩm” (người lao động có tay nghề), còn DN là “khách hàng”. Thay vì chủ động hợp tác đào tạo để có sản phẩm tốt thì DN chỉ muốn “xài chùa”, được thì tốt, nếu không quay sang đổ lỗi cho đào tạo yếu. Ông Nguyễn Văn Ngoan, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Sinh viên Trường Đại học Tôn Đức Thắng, nhấn mạnh có cố làm cách mấy đi nữa, không bao giờ trường nghề chạy theo kịp DN, bởi DN thay đổi máy móc, công nghệ liên tục; trong khi trang thiết bị dạy nghề ngày càng lạc hậu, lấy đâu ra kinh phí để đầu tư mua sắm thiết bị mới.
Trong khi đó, nhiều DN cũng cho rằng cần xem lại việc đào tạo hiện nay. Ông Vũ Thành Nam Đức, Trưởng Phòng Marketing Công ty TNHH Digi-Texx, cho biết công ty chuyên làm việc với nước ngoài nên tìm người có khả năng phù hợp. Thế nhưng hầu hết lao động tuyển dụng đều thiếu những kỹ năng quản lý. Bà Huỳnh Thị Lệ Hằng, Phó Phòng Nhân sự Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam, cho rằng chương trình đào tạo hiện nay chưa chuyên sâu, chưa đáp ứng yêu cầu DN đặt ra. Giữa đào tạo và sử dụng lao động còn có khoảng cách khá xa.
Theo bà Ngô Bích Phượng, đại diện Trường Cao đẳng (CĐ) Vinhempich, trong khi ngồi chờ DN gõ cửa thì cơ sở đào tạo cũng cần chủ động đưa ra giải pháp cứu mình. Bà Phượng cho biết, từ năm 2001, Trường CĐ Vinhempich áp dụng hình thức liên kết đào tạo với DN bằng hoạt động người học đến với DN và ngược lại. Nhờ vậy, có đến 99% sinh viên tốt nghiệp ngành cơ khí động lực, công nghệ thông tin có việc làm sau khi ra trường. Cũng theo bà Phượng, DN không thể chạy theo trường nghề nhưng nếu chủ động hơn trong cách làm, quan hệ, thực sự xem giải quyết việc làm cho người học là hoạt động chính bên cạnh mảng đào tạo thì sẽ tháo gỡ được khó khăn. Tuy nhiên, việc này không thể tách rời trách nhiệm của DN với xã hội và với chính mình. Trong chính sách phát triển nhân lực, các DN vẫn chưa thực sự coi trọng việc hợp tác đào tạo, tạo nguồn lao động.
Vấn đề được nhiều đại biểu đồng tình là giữa nhà đào tạo, nhà tuyển dụng cần chủ động hơn nữa trong việc liên kết đào tạo. Theo ông Dương Minh Kiên, từ trước đến nay, đào tạo theo đơn đặt hàng ở VN vẫn mang tính tự phát chứ chưa được nhân rộng và thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm giữa hai bên. Nên chăng phải thiết lập mối quan hệ trách nhiệm với nhau. DN muốn có nhân lực tốt thì nên chủ động đặt hàng với nhà đào tạo, cùng với nhà trường đầu tư cho đào tạo thì mới giải quyết được bài toán thiếu hụt nhân lực.
Nhiều đại biểu cho rằng rất cần một tổ chức chuyên nghiệp đứng ra làm cầu nối để giúp nhà đào tạo và nhà tuyển dụng nắm bắt thông tin, trên cơ sở đó đẩy mạnh hơn nữa liên kết đào tạo. Còn như hiện nay, khoảng cách đào tạo – sử dụng lao động khó có thể được rút ngắn.
1.676 lao động có việc làm
Hội nghị “Kết nối thông tin đào tạo và việc làm" là một hoạt động trong khuôn khổ của phiên giao dịch lần 3 – sàn giao dịch việc làm TPHCM năm 2008, diễn ra trong hai ngày 7 và 8-6. Có 62 doanh nghiệp tham gia tuyển dụng trực tiếp và 60 doanh nghiệp tuyển dụng trực tuyến tại phiên giao dịch lần này với tổng nhu cầu 20.000 lao động. Kết quả đã có 6.167 người đăng ký tìm việc trực tiếp, trong đó 2.289 người được dự tuyển phỏng vấn, 1.113 người được giải quyết việc làm. Ngoài ra, còn có 1.500 người đăng ký tìm việc trực tuyến với 563 người được thông báo chấp nhận tuyển dụng.
Theo Người lao động
Sunday, 27. July 2008, 01:20:18
Labour Export
Ngày cập nhật: 25/07/2008 07:50
Trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam đang được mở rộng hơn. Hiện nay, tổng số lao động Việt Nam đang làm việc có thời hạn tại nước ngoài là 500.000 người. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động không đáp ứng được yêu cầu đang là rào cản lớn nhất trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề.
Theo thống kê, số lượng lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam tăng đều hàng năm. Trong 5 năm trở lại đây, bình quân mỗi năm cả nước có trên 50.000 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài, nguồn thu ngoại tệ tính theo thu nhập thực tế do người lao động chuyển về nước đạt khoảng 1,7 tỷ USD/năm. Theo kế hoạch năm 2008, Cục Quản lý lao động ngoài nước sẽ đưa khoảng 85.000 người đi lao động tại nước ngoài, tập trung vào một số thị trường chủ lực như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông... Trong những năm tới dự báo nhu cầu nhập khẩu lao động của thế giới vẫn rất cao, đặc biệt là những nước khu vực Trung Đông, các nước khu vực châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... cũng rất cần lao động. Tuy nhiên, mức độ đòi hỏi về trình độ, tay nghề đối với lao động cũng đòi hỏi phải cao hơn rất nhiều. Thực tế chất lượng nguồn lao động xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường đang là trở ngại lớn nhất trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao. Tình hình đưa lao động đi trong năm 2007 vừa qua cho thấy thị trường hiện đã có bước chuyển rõ rệt sang nhu cầu nhận lao động có tay nghề và tay nghề cao, trong khi đó lao động Việt Nam vẫn còn tình trạng vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật.
Theo Bộ LĐ-TB&XH, mục tiêu đặt ra là đến năm 2010 là nâng tỷ lệ lao động xuất khẩu có nghề lên mức tối thiểu 75% trong tổng số lao động được đưa đi hàng năm, trong đó lao động có trình độ từ trung cấp nghề trở lên chiếm 40%; đến năm 2015, chủ yếu XKLĐ có nghề, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và chuyên gia; 100% lao động xuất khẩu được đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng. Bộ LĐ-TB&XH đã xây dựng xong đề án nói trên và đang tiến hành các bước triển khai. Ông Nguyễn Thanh Hòa, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, cho biết đang nghiên cứu thí điểm mô hình đào tạo ngoại ngữ và tay nghề đạt chuẩn cho lao động để cung ứng đi các thị trường quốc tế lương cao. Hiện Bộ LĐ-TB&XH đang xúc tiến nghiên cứu thị trường, dự báo ngành nghề đào tạo, đặc biệt là chuẩn đào tạo của các nghề mà nước bạn yêu cầu.
Xuất khẩu lao động là một trong những hướng đi cần được khuyến khích. Tuy nhiên, đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực dành cho xuất khẩu lao động là vấn đề cần được quan tâm. Chất lượng nguồn lao động là một trong những yếu tố quan trọng cho sự thắng thế trong cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế. Muốn mở rộng việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn cho lao động Việt Nam ở nước ngoài, không có cách nào hữu hiệu bằng nâng cao chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài.
VĂN DŨNG
Saturday, 26. July 2008, 10:07:22
Vocational Training
Trong những năm qua, hoạt động dạy nghề đã có bước phát triển đáng ghi nhận. Theo đó, đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Nếu như cả năm 2005, chỉ có 8.394 giáo viên trong các trường dạy nghề; 2.842 giáo viên trong các trung tâm dạy nghề thì đến năm 2007 số giáo viên đã tăng 4.678 tại các trường cao đẳng nghề (CĐN); giáo viên tại các trường trung cấp nghề (TCN) là 9.583 và tại các trung tâm dạy nghề là 5.934 giáo viên, ngoài ra còn hàng ngàn giáo viên các cơ sở khác liên quan đến dạy nghề trong cả nước. Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng không ngừng được nâng cao. Hiện có trên 82,83% giáo viên trong các trường CĐN, 73,16% giáo viên tại các trường TCN và 58,88% tại các trung tâm dạy nghề có trình độ từ CĐ và ĐH. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đội ngũ giáo viên dạy nghề nước ta còn một số hạn chế như: kỹ năng, phương pháp giảng dạy, nhất là khối các trường dạy nghề thuộc địa phương, hay ở các trường mới thành lập, các trường ngoài công lập....
Ông Trần Văn Thanh, Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Đường sắt I thừa nhận: “Thực tế học sinh ít đăng ký vào học các trường nghề một phần quan niệm và tư duy người đi học, phần khác cũng phải thẳng thắn mà nói rằng một bộ phận giáo viên dạy nghề của chúng ta còn kém, họ có tư tưởng đây là trường dạy nghề, dạy cách làm bằng cơ bắp nên không chú ý tới việc nâng cao trình độ”.
Ông Đặng Xuân Thức, Phó trưởng Ban giáo viên đào tạo nghề, Tổng cục Dạy nghề cho rằng: Đa số giáo viên giảng dạy theo chương trình khung, mới được ban hành còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng. Chẳng hạn như giáo viên giảng dạy tích hợp, dạy theo mô đun thì còn kém lắm, số giáo viên dạy được lý thuyết thì lại hạn chế về trình độ kỹ năng nghề trong khi dạy thực hành; giáo viên dạy được thực hành thì khả năng sư phạm về giảng dạy lý thuyết nghề lại hạn chế. Nguyên nhân của những hạn chế trên là do cơ chế tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm còn bất cập. Một bộ phận giáo viên dạy nghề chưa tích cực, hời hợt và không chủ động học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ…
Một số ý kiến khác cho rằng, do chế độ, chính sách đối với giáo viên dạy nghề chưa đủ mạnh để thu hút và tạo điều kiện cho đội ngũ tận tâm cống hiến vì sự nghiệp. Giáo viên dạy nghề hiện vẫn đang được thụ hưởng theo chính sách, chế độ chung của nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định của Chính phủ, chưa có chính sách, chế độ đặc thù để thu hút giáo viên vào giảng dạy trong các cơ sở dạy nghề.
Ông Hoàng Công Thi, Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề LILAMA-I cho rằng: Để xây dựng được thương hiệu cho trường dạy nghề thì một trong những việc làm đầu tiên là cần phải chọn được đội ngũ giáo viên có chất lượng. Trình độ của giáo viên nghề không chỉ ở chuyên môn mà còn phải am hiểu cả về tin học, ngoại ngữ.. Có như vậy mới thu hút được lượng sinh viên đến trường đăng ký học.
Tuấn Chí
Saturday, 26. July 2008, 09:50:54
Vocational Training
Đàm Hữu Đắc
TS, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Đổi mới đồng bộ, phát triển toàn diện sự nghiệp dạy nghề ở nước ta là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, xã hội và của toàn dân. Chúng ta cần huy động toàn xã hội tham gia các hoạt động dạy nghề để đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư cho dạy nghề là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Kết quả đạt được
10 năm qua, sự nghiệp đào tạo nghề ở nước ta có nhiều chuyển biến, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hệ thống trường nghề, cơ sở dạy nghề ở các cấp các ngành, các doanh nghiệp không ngừng gia tăng. Đến nay, cả nước có 70 trường cao đẳng nghề, 235 trường trung cấp nghề và hàng ngàn trung tâm, cơ sở dạy nghề, xóa bỏ tình trạng trắng trường dạy nghề ở các tỉnh, từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối giữa nhu cầu và năng lực đào tạo, phân bổ các trường nghề giữa các vùng, miền, các ngành tương đối hợp lý.
Một số trường dạy nghề nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình dự án nước ngoài được đầu tư, trang thiết bị, máy móc, phương tiện khá khang trang, hiện đại, nổi trội như một mô hình, nhân tố mới, thúc đẩy phát triển sự nghiệp đào tạo nghề ở nước ta. Cơ cấu ngành nghề đào tạo từng bước điều chỉnh theo yêu cầu, cơ cấu của sản xuất – kinh doanh - dịch vụ, yêu cầu đa dạng của xã hội. Nội dung chương trình đào tạo nghề từng bước được nâng cao về chất lượng phù hợp với kỹ thuật, công nghệ sản xuất ở các khu công nghiệp, khu chế xuất và các vùng kinh tế trọng điểm. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 95%, trong đó loại khá giỏi đạt 29%, khoảng 70% học sinh tốt nghiệp ra trường có việc làm ngay. Có những trường, cơ sở dạy nghề, nghề đào tạo phù hợp yêu cầu sản xuất, chất lượng tay nghề cao, học sinh khi tốt nghiệp ra trường được các doanh nghiệp đón nhận vào làm việc với mức thu nhập khá.
Quy mô tuyển sinh tăng nhanh hằng năm, từ 887.300 học sinh, sinh viên năm 2001 đã tăng lên 1.436.500 học sinh, sinh viên năm 2007; trong đó trung cấp nghề 151.000, cao đẳng nghề 30.000 học sinh, sinh viên. Dự kiến tuyển sinh năm 2008 là 1.482.000 học sinh, sinh viên, trong đó trung cấp nghề 158.850 học sinh và cao đẳng nghề 55.000 sinh viên. Đội ngũ giáo viên dạy nghề có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cả nước có 30.408 giáo viên dạy nghề và tham gia dạy nghề, trong đó giáo viên thuộc các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trường nghề là 12.802 người. Giáo viên có tham gia đào tạo nghề ở các trường đại học, cao đẳng khác là 13.158 người và đội ngũ giáo viên ở các trung tâm dạy nghề các cấp là 4.948 người. Trong đội ngũ giáo viên dạy nghề và tham gia dạy nghề có 3.743 thạc sỹ, tiến sỹ. Không ít giáo viên, cán bộ quản lý, các nghệ nhân rất tâm huyết gắn bó với sự nghiệp dạy nghề ở nước ta, nhất là dạy nghề, truyền nghề truyền thống cho thế hệ trẻ. Nhiều tổ chức đoàn thể như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam... đã tăng cường các hoạt động dạy nghề cho hội viên, đoàn viên. Quan tâm, tạo mọi điều kiện cho các trường, cơ sở dạy nghề để không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dạy nghề.
Xã hội hóa dạy nghề đã đem lại kết quả bước đầu. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đã đầu tư, thành lập các trường dạy nghề. Năm 2007, cả nước có 7 trường cao đẳng, 26 trường trung cấp, 36 trường dạy nghề và 239 cơ sở dạy nghề ngoài công lập. Năm 2006 số người vào học tại các cơ sở dạy nghề ngoài công lập đạt 445.000 người, trong đó học dài hạn 13.000 người; năm 2007 đạt 514.443 người, dài hạn 16.803 người. Nguồn vốn đầu tư cho các trường, cơ sở dạy nghề ngoài công lập năm 2006 đạt 37%, một số trường, cơ sở dạy nghề ngoài công lập được đầu tư xây dựng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện khang trang hiện đại, đáp ứng yêu cầu dạy và học, thậm chí không thua kém các trường dạy nghề công lập.
Những khó khăn, bất cập
Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, sự nghiệp đào tạo nghề nước ta đã bộc lộ những tồn tại, bất cập. Mạng lưới cơ sở dạy nghề, quy mô và chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, yêu cầu đa dạng của xã hội. Một bộ phận học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn khó khăn trong tìm việc làm vì trình độ, kỹ năng nghề yếu, không sát hợp với yêu cầu doanh nghiệp. Nội dung, chương trình nặng nề dàn trải, đầu vào xơ cứng khiến cho hàng vạn thanh niên, người lao động có nhu cầu học một nghề để lập thân, lập nghiệp không có cơ hội do còn nhiều rào cản. Cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập còn cũ kỹ, lạc hậu, chưa có đủ những máy móc, thiết bị hiện đại như các nước trong khu vực. Sự hợp tác, liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp chưa chặt chẽ, không ít doanh nghiệp chưa thật quan tâm hợp tác với cơ sở dạy nghề; phương pháp dạy và học chuyển biến chậm, thời gian thực hành, thực tập ít, có cơ sở dạy nghề do kinh phí eo hẹp vẫn dạy chay, dạy lý thuyết là chính, thực hành thực tập không đáng kể. Qua thí điểm đánh giá trình độ kiến thức, kỹ năng nghề của học sinh ra trường ở một số cơ sở dạy nghề cho thấy kết quả rất thấp, còn khoảng cách khá xa giữa đào tạo ở nhà trường và yêu cầu thực tế của sản xuất; vấn đề xã hội hóa dạy nghề cũng còn nhiều vướng mắc và bất bình đẳng...
Nguyên nhân của tình hình trên, là do nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề, yếu tố quyết định chất lượng nguồn lao động, hiệu quả kinh tế; có vấn đề về quan điểm đầu tư cho dạy nghề chưa đúng, hầu hết các trường đẳng cấp ở khu vực và trên thế giới đều hết sức quan tâm đầu tư, trang thiết bị, máy móc, phương tiện cho cơ sở dạy nghề thuộc thế hệ tiên tiến, thậm chí vừa xuất xưởng sản xuất, nhưng với nước ta đó là những máy móc, phương tiện cũ kỹ, lạc hậu đã thanh lý, không hoạt động được thì chuyển giao cho cơ sở dạy nghề; định mức vật tư, kinh phí cho thực hành, thực tập rất hạn hẹp nên các cơ sở dạy nghề phải cắt giảm thời gian thực hành, thực tập; không ít máy móc, phương tiện phục vụ cho dạy và học vẫn phải chịu thuế cao, như đối với đơn vị kinh doanh; khuyến khích trong thuế thu nhập của cơ sở dạy nghề vẫn hòa đồng như các hoạt động văn hóa - xã hội khác, trong khi đó để đáp ứng yêu cầu cho doanh nghiệp thì đầu tư trang thiết bị, cơ sở dạy nghề rất tốn kém, đóng góp của người học nghề lại hạn chế nên thời gian thu hồi vốn kéo dài; cơ sở dạy nghề ngoài công lập vẫn gặp nhiều khó khăn do vẫn còn phân biệt đối xử trong vay vốn; điện, nước vẫn phải chịu giá kinh doanh; chưa có chính sách ưu đãi đối với cơ sở dạy nghề, với doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở dạy nghề và nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề. Chưa có chính sách tôn vinh kip thời những giáo viên, nghệ nhân có nhiêu công lao đóng góp cho sự nghiệp đào tạo nghề ở nước ta.
Định hướng phát triển cho những năm tới
Sự nghiệp dạy nghề nước ta cần được chuyển đổi nhanh từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường sức lao động và yêu cầu đa dạng của xã hội, gắn dạy nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương và gắn với tạo việc làm, thu nhập cho người lao động. Đổi mới và nâng cao chất lượng dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa một cách toàn diện, đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, đánh giá kết quả học tập, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến của các nước, tạo bước đột phá về chất lượng dạy nghề ở nước ta, coi đây là những nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực để nâng tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả nền kinh tế, thành bại trong cạnh tranh và sự hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới.
Đến năm 2020, hệ thống đào tạo nghề nước ta được phát triển đồng bộ, nhanh về số lượng các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề, hợp lý về cơ cấu. Cả nước có ít nhất 200 trường cao đẳng nghề, trong đó ít nhất 20% đạt trình độ tiên tiến khu vực, 50% đạt trường chuẩn quốc gia; hơn 300 trường trung cấp nghề, trong đó có trên 50% đạt trường chuẩn quốc gia. Các tập đoàn kinh tế có các trường trung cấp, cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động trong các doanh nghiệp. Các quận, huyện đều có trường nghề để đáp ứng yêu cầu phổ cập nghề, khôi phục các làng nghề truyền thống, nhu cầu học nghề đa dạng của người dân. Trên cơ sở đó, tăng nhanh quy mô đào tạo nghề hằng năm khoảng 5% đến 6%/năm, trong đó dạy nghề trình độ trung cấp, cao đẳng nghề tăng 16% đến 18% /năm để đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 55% đến 60%, góp phần phổ cập nghề cho thanh niên, hướng đến mỗi thanh niên Việt Nam có một nghề trong tay để lập thân, lập nghiệp, góp phần giải quyết căn bản vấn đề thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế trọng điểm.
Tăng cường đầu tư, đổi mới trang thiết bị, máy móc phương tiện phục vụ cho dạy và học sát hợp với yêu cầu sản xuất, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Tăng cường cả về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề, đến năm 2020 có 100% giáo viên dạy nghề đạt chuẩn về trình độ đào tạo và trình độ kỹ năng thực hành nghề, tỷ lệ giáo viên qui đổi /học sinh, sinh viên khoảng 1/15 đến 20; hoàn thiện chương trình khung, chương trình dạy nghề trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho tất cả các nghề đào tạo ở trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề; triển khai rộng chương trình đào tạo liên thông giữa các cấp trình độ dạy nghề với các trình độ đào tạo cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân với các nước phát triển trên thế giới; mở rộng áp dụng các chương trình dạy nghề tiên tiến của nước ngoài và dạy nghề bằng tiếng Anh; triển khai chương trình liên kết, liên doanh trong dạy nghề để đưa sinh viên ra nước ngoài học những nghề có kỹ thuật, công nghệ cao mà trong nước có nhu cầu nhưng chưa có đủ điều kiện đào tạo. 100% trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề được kiểm định chất lượng dạy nghề. 100% các nghề có tiêu chuẩn kỹ năng nghề đều được tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động có yêu cầu.
Những giải pháp chủ yếu
Trước hết, cần có nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quyết định đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và lập thân, lập nghiệp đối với người lao động, nhất là thanh niên. Cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, nhất là công nhân trẻ, công nhân từ nông dân, công nhân nữ; phát triển nhanh về quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động để giải quyết cho được vấn đề hằng năm ở nước ta thiếu hằng trăm ngàn công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề ở các khu vực này; tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới để nước ta có đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, hoàn thiện chiến lược, quy hoạch phát triển dạy nghề một cách đồng bộ, nhanh chóng chuyển đổi hệ thống dạy nghề từ hướng cung sang hướng cầu theo 3 cấp độ: dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế, bảo đảm sự cân đối giữa đào tạo và sử dụng, đáp ứng có hiệu quả nguồn nhân lực có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề, thực hiện tốt cơ chế kiểm định đánh giá chất lượng dạy nghề. Làm tốt công tác dự báo nhu cầu lao động theo ngành nghề, cấp trình độ ở từng vùng, khu vực cũng như trên phạm vi cả nước.
Thứ ba, tiếp tục phát triển hệ thống trường dạy nghề, cơ sở dạy nghề đáp ứng nhu cầu phổ cập nghề, học nghề của người lao động, nhất là thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo nghề, gắn chặt đào tạo lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, gắn đào tạo nghề với rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; tăng cường cơ sở vật chất, trang bị máy móc, thiết bị, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập, từng bước tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, sát hợp với yêu cầu thực tế sản xuất của thị trường lao động. Đổi mới căn bản phương pháp giảng dạy, thực hành theo phương pháp tiên tiến của các nước trong khu vực. Tăng thời gian thực hành, thực tập, giảm thời gian học lý thuyết để không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người học.
Thứ tư, hoàn thiện nội dung, chương trình dạy nghề hệ trung cấp nghề, cao đẳng nghề trên cơ sở chương trình khung quốc gia, đồng thời xây dựng nội dung chương trình dạy nghề ngắn hạn, chương trình nâng cao cho từng bậc, từng nghề để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội; chuẩn hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, sát hợp với thực tế sản xuất của doanh nghiệp, của xã hội, có chương trình, kế hoạch đổi mới trang thiết bị, khắc phục tình trạng máy móc, phương tiện thanh lý, thiết bị cũ kỹ lạc hậu chuyển cho cơ sở dạy nghề, tiến tới các trường dạy nghề, cơ sở dạy nghề ở nước ta cũng được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, phương tiện tiên tiến như các nước trong khu vực và trên thế giới; xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề tương xứng với vị trí của trường trung cấp, cao đẳng nghề.
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sự nghiệp đào tạo nghề ở nước ta như: Chính sách hướng nghiệp ngay từ cấp học phổ thông giúp cho học sinh, thanh niên định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn nghề, học nghề; có chương trình phổ cập nghề cho thanh niên, đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động; chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho dạy nghề; không ngừng cập nhật nâng cao tay nghề cho người lao động trong doanh nghiệp; có chính sách ưu đãi đối với các cơ sở dạy nghề thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm đổi mới trang thiết bị, máy móc, phương tiện, vật tư phục vụ cho dạy và học nghề; nhà nước đáp ứng nhu cầu vay vốn để học nghề cho học sinh, sinh viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho công nhân tự học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ để ổn định việc làm và hướng tới thu nhập cao hơn; ưu đãi cho doanh nghiệp trong hoạt động liên kết đào tạo nghề, giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề, thực hành, thực tập sản xuất; tôn vinh kịp thời những giáo viên, cán bộ quản lý, các nghệ nhân có thành tích xuất sắc trong đào tạo, truyền nghề; thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, các nghệ nhân giỏi tham gia dạy nghề.
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo nghề, nhất là dạy nghề trình độ cao, đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và thế giới, xúc tiến việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo nghề, chứng chỉ kỹ năng nghề với các nước trong khu vực và thế giới. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho các trường dạy nghề của nước ta đẩy mạnh liên doanh, liên kết đào tạo nghề với các trường nghề tiên tiến trong khu vực và một số nước trên thế giới nhằm tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề nước ta. Những trường nằm trong chương trình mục tiêu, chương trình trọng điểm lựa chọn một số nghề đào tạo theo chương trình dạy nghề tiên tiến của các nước phát triển, tổ chức dạy bằng tiếng Anh cho những nghề mà thị trường lao động quốc tế đang có nhu cầu. Xúc tiến nghiên cứu khoa học về dạy nghề và ứng dụng các công nghệ dạy nghề tiên tiến của các nước trong khu vực và thế giới vào nước ta./.
Tạp chí Cộng sản số 9 - 2008
Tuesday, 22. July 2008, 06:36:52
Labour Export
Thứ Sáu, 18/07/2008, 07:56 Theo VnEconomy
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số lao động hàng năm hết hạn về nước khoảng 100 nghìn người, nhưng chỉ có 20% trong số đó sau khi về có việc làm ổn định.Ý thức của người lao độngCó nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một cán bộ của Cục Quản lý lao động ngoài nước nhận định, trong đó, theo ông ý thức của người lao động vẫn là điều đáng nói.
Thực tế cho thấy, nhiều lao động sau khi đi làm việc ở nước ngoài trở về không có ý định tìm việc tại các doanh nghiệp trong nước. Nhiều người trong số đó có ý định quay trở lại nước mà mình đã đi lao động trở về (ngay cả bằng con đường bất hợp pháp), hoặc là một nước khác.
Cũng không ít người “tự mãn” với số tiền kiếm được trong thời gian đi xuất khẩu lao động và cho phép mình “xả hơi” với số tiền đó.
Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, năm 2007, toàn tỉnh đã đưa được 13.469 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Nguồn thu nhập do xuất khẩu lao động chuyển về tỉnh qua các ngân hàng thương mại năm 2007 khoảng 90 triệu USD tăng 38% so với năm 2006.
Với nhiều tỉnh như Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, nguồn thu từ xuất khẩu lao động cũng không hề nhỏ khi công tác này đã trở thành phong trào. Tuy nhiên, không biết có bao nhiêu phần trăm trong tổng số tiền này được sử dụng có hiệu quả.
Nhiều địa phương đã đưa ra định hướng sử dụng nguồn vốn từ xuất khẩu lao động để kinh doanh nhưng không mấy ai mặn mà, đầu tư cho việc học nghề thì tuyệt nhiên không. Như vậy, với số tiền có được, hoặc là họ sẽ xây nhà, mua xe, trả nợ, hoặc là dùng để chi tiêu hàng ngày.
“Miệng ăn, núi lở” chứ nói gì đến vài trăm triệu đồng. Cuối cùng, trước lúc đi xuất khẩu lao động thì thất nghiệp, sau khi đi xuất khẩu trở về lại tái thất nghiệp”, một cán bộ xã bức xúc.
Nhà nước thiếu chính sáchBáo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, Việt Nam đang thiếu trầm trọng lao động tay nghề cao. Thậm chí, nhiều chuyên gia còn đưa ra cảnh báo: “Trong vòng 8 đến 10 năm tới, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ nhập khẩu lao động tay nghề cao từ các nước bạn”.
Và theo một số ý kiến, hiện Nhà nước nói nhiều đến việc tăng tốc đào tạo, hướng nghiệp cho lao động trong nước, mà chưa có chính sách khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi xuất khẩu lao động trở về. Trong khi đó, lao động đã từng đi xuất khẩu là một nguồn nhân lực có bề dày cả về tay nghề lẫn kinh nghiệm.
Ông Nguyễn Quốc Khánh, cán bộ Cục Quản lý lao động ngoài nước cho rằng, với hoạt động xuất khẩu lao động, ngoài việc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, đây còn là cơ hội để lao động Việt Nam có thể học hỏi, là công cụ để chuyển giao công nghệ tiên tiến nước ngoài, thông qua đó đào tạo một đội ngũ lao động có chất lượng cao về chuyên môn, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp.
Trao đổi vấn đề này với VnEconomy, ông Đặng Khiêu, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thái Bình cho biết, chủ trương giải quyết việc làm cho lao động đi xuất khẩu về nước là có, nhưng địa phương vẫn gặp nhiều khó khăn trong khâu thực hiện.
Cụ thể, sở lao động tỉnh không thể nắm rõ con số lao động về nước hàng năm, cũng chưa có chính sách cụ thể trong việc định hướng nghề nghiệp cho lao động sau khi về nước. “Hiện, chúng tôi chỉ có thể dừng lại ở khâu định hướng, tuyên truyền, còn để làm gì để đầu tư hiệu quả số tiền đi xuất khẩu có được, tránh tình trạng tái thất nghiệp, phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức của người lao động”, ông Khiêu nói.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam lại đánh giá rất cao nguồn lao động đã từng làm việc ở nước ngoài.
Ông Chang Hee Lee, chuyên gia về quan hệ lao động và đối ngoại xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng, lao động Việt Nam đã được đánh giá tốt trong thời gian làm việc tại nước ngoài, đặc biệt là ở Hàn Quốc. Nếu xét về tính cạnh tranh, đây là nguồn lao động tạo ra tính cạnh tranh cao hơn lao động đã qua đào tạo nghề trong nước.
Cũng theo ông Lee, nếu có chính sách khai thác hợp lý, tạo ra những kênh kết nối giữa lao động và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng, nguồn lao động này sẽ góp phần điều hoà nguồn lực chất lượng theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá và hội nhập lao động quốc tế.
Quỳnh Lam
Showing posts 1 -
10 of
67.